Người Việt xưa làm từ thiện chủ yếu qua những việc chung của làng: bắc cầu, đào giếng, đắp đường, cúng ruộng cho đình chùa, lập kho thóc nghĩa thương để cứu đói. Người có công lớn được làng ghi tên lên bia hậu và thờ phụng sau khi mất, một cách ghi ơn rất riêng của văn hoá làng xã Việt Nam.
Chào bạn, đây là Giới Thượng Lưu. Khi nói về từ thiện, ta hay nghĩ tới những quỹ, những tổ chức hiện đại. Nhưng ông cha mình đã có một truyền thống cho đi rất lâu đời, gắn chặt với cây đa, giếng nước, mái đình. Tập này mình về làng, đọc những tấm bia đá rêu phong để nghe họ kể.
Lá lành đùm lá rách trong đời sống làng
Tục ngữ lá lành đùm lá rách và thương người như thể thương thân không chỉ là lời hay. Trong làng xã Việt xưa, sự tương trợ là điều kiện để sống còn. Mất mùa, lũ lụt, dịch bệnh, nhà nào cũng có lúc cần tới hàng xóm, nên giúp nhau là bổn phận tự nhiên.
Nhiều làng có kho nghĩa thương, kho thóc chung do dân góp lúc được mùa, để cứu đói lúc giáp hạt hay thiên tai. Có nơi có ruộng nghĩa, hoa lợi dùng để giúp người nghèo, người goá bụa, trẻ mồ côi trong làng.
Những gia đình khá giả trong làng được kỳ vọng góp phần nhiều hơn. Đó không chỉ là lòng tốt, mà còn là cách giữ thể diện và uy tín của gia đình trong cộng đồng.
Người giàu mà keo kiệt với làng thường bị dư luận chê trách, còn người giàu mà rộng rãi thì được kính trọng qua nhiều đời. Tiếng thơm trong làng là thứ tài sản mà tiền không mua được.
Bắc cầu, đào giếng: công đức để đời
Đúng vậy, những công trình chung là hình thức từ thiện được người xưa coi trọng nhất. Bắc một cây cầu qua sông, đào một cái giếng cho cả xóm, đắp một con đường lên chợ, xây một quán nước bên đường cho người qua lại nghỉ chân. Những việc ấy giúp không chỉ một người mà cả cộng đồng, qua nhiều thế hệ.
Ở làng Thanh Thuỷ Chánh, gần Huế, có cây cầu ngói Thanh Toàn nổi tiếng. Theo những gì còn ghi lại, cầu được một người phụ nữ trong làng là bà Trần Thị Đạo bỏ tiền xây dựng vào thế kỷ mười tám, để dân làng đi lại thuận tiện. Việc làm của bà được triều đình ghi nhận, và dân làng lập bàn thờ nhớ ơn bà ngay trên cầu.
Chùa chiền cũng là nơi nhận nhiều công đức. Người ta cúng tiền, cúng ruộng, đúc chuông, tô tượng. Những tấm bia ở các chùa cổ thường khắc tên người cúng, số tiền, số ruộng, như một bản ghi công khai rất sớm.
Cái hay của những công trình ấy là chúng ở lại. Người cho đi đã mất từ lâu, nhưng cây cầu, cái giếng vẫn còn đó, và câu chuyện vẫn được kể.
Tục bầu hậu và tấm bia hậu
Nói thêm về một tục rất đặc biệt của làng Việt: bầu hậu. Khi một người có công lớn với làng, như góp tiền sửa đình, cúng ruộng, giúp làng vượt qua tai ương, làng có thể bầu người ấy làm hậu. Sau khi người ấy mất, làng sẽ cúng giỗ, thờ phụng họ, như một cách ghi ơn mãi mãi.
Người được thờ ở đình gọi là hậu thần, ở chùa gọi là hậu Phật. Việc này được khắc vào bia đá gọi là bia hậu, ghi rõ tên người, công đức, và những lễ vật làng cam kết cúng giỗ hằng năm. Nhiều tấm bia hậu ngày nay vẫn còn ở các đình chùa vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Có những người không có con cái, hoặc lo con cháu đi xa, đã chọn cúng ruộng cho làng để được làng lo giỗ sau khi mất. Đó vừa là từ thiện, vừa là một cách gửi gắm phần hương khói của mình.
Tấm bia hậu cho thấy một quan niệm rất Việt: lòng tốt được ghi nhớ không phải bằng một tấm biển tên, mà bằng sự biết ơn bền bỉ của cả cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Từ thiện thời cận đại: trường học, nhà thương, hội cứu tế
Đúng là sang đầu thế kỷ hai mươi, hình thức cho đi bắt đầu thay đổi. Bên cạnh đình chùa, cầu giếng, những người khá giả bắt đầu góp tiền mở trường học, nhà thương, lập các hội cứu tế, hội khuyến học. Những hội ấy có điều lệ, có sổ sách, giống những tổ chức từ thiện hiện đại.
Phong trào khuyến học được nhiều người hưởng ứng, vì họ tin rằng học vấn là con đường để dân tộc tự cường. Nhiều nhà hảo tâm đứng ra cấp học bổng, mở lớp học cho con em nghèo.
Khi có thiên tai lớn như lũ lụt, những cuộc quyên góp cứu trợ được tổ chức rộng rãi qua báo chí thời ấy, danh sách người góp được đăng công khai. Đó là một hình thức minh bạch khá sớm.
Tinh thần ấy vẫn tiếp nối tới hôm nay, mỗi khi miền Trung có bão lũ, cả nước lại hướng về, đúng như tục ngữ lá lành đùm lá rách.
Bài học từ làng xưa cho hôm nay
Còn từ truyền thống ấy, chúng ta học được gì. Thứ nhất là ưu tiên những việc giúp được nhiều người và để lại lâu dài: một cây cầu, một cái giếng, một lớp học thường có ích hơn nhiều so với những món quà tiêu hết trong một ngày.
Thứ hai là gắn bó với một cộng đồng cụ thể. Người xưa giúp làng mình, nơi họ hiểu rõ ai cần gì. Ngày nay, giúp quê hương, giúp nơi mình sống, giúp ngành nghề mình biết rõ cũng là cách cho đi hiệu quả.
Thứ ba là sự ghi nhận đúng cách. Bia hậu ghi công một cách trang trọng mà không phô trương, và người được ghi nhận là người đã thật sự góp sức lớn. Đó là tiếng thơm đến từ cộng đồng, không phải từ tự quảng bá.
Lần tới về quê, bạn thử ghé đình làng và tìm những tấm bia cũ. Nhờ người lớn tuổi đọc giúp vài dòng. Có khi bạn sẽ thấy tên một cụ tổ của chính dòng họ mình đã từng góp sức cho làng.
Câu hỏi thường gặp
Bia hậu là gì?
Bia hậu là tấm bia đá ở đình, chùa ghi lại việc làng bầu một người có công làm hậu, kèm công đức của họ và cam kết của làng về việc cúng giỗ. Đây là tư liệu quý về đời sống làng xã và văn hoá ghi ơn của người Việt.
Kho nghĩa thương dùng để làm gì?
Kho nghĩa thương là kho thóc chung của làng hoặc địa phương, tích trữ lúc được mùa để cứu đói khi mất mùa, thiên tai hoặc giáp hạt. Nó là hình thức tương trợ cộng đồng của người xưa.
Cầu ngói Thanh Toàn ở đâu?
Cầu ngói Thanh Toàn nằm ở làng Thanh Thuỷ Chánh, gần thành phố Huế. Đây là cây cầu gỗ có mái ngói cổ, gắn với câu chuyện một người phụ nữ trong làng bỏ tiền xây cầu cho dân đi lại.
Ngày nay còn tục bầu hậu không?
Tục bầu hậu theo kiểu xưa hiện không còn phổ biến, nhưng tinh thần ghi ơn người có công với làng vẫn còn qua những tấm bảng công đức, những buổi lễ tri ân ở đình chùa và địa phương.
Góp tiền xây đình chùa có phải là từ thiện không?
Góp công đức cho đình chùa là một truyền thống tín ngưỡng và văn hoá. Khi công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng và được quản lý minh bạch, nó mang ý nghĩa cộng đồng rõ rệt. Người góp nên tìm hiểu kỹ việc sử dụng tiền.